vietlinh.vn | Tin tức | Kỹ thuật | Sản phẩm | Doanh nghiệp | Việc làm | Chuyện nhà nông | SVC | Tin nội bộ | English | 中文 | Tìm kiếm | Liên hệ

© Copyright 2000 vietlinh.vn ® VietLinh giữ bản quyền

Tel: (028) 383.99779
Hotline: 090.889.2699

Chuyện nhà nông

Tiêu thụ hàng hóa nông sản ở ĐBSCL: Giảm phụ thuộc, tránh rủi ro

Nguồn tin:  Báo Cần Thơ, 16/10/2014
Ngày cập nhật: 18/10/2014

Nâng cao năng lực, nắm bắt thời cơ

Làm gì để sản phẩm hàng hóa giảm lệ thuộc vào một thị trường nhất định? Đây là câu hỏi khó, nhưng nhiều ý kiến cho rằng, nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng thời cơ của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại… là những giải pháp, những bước đi chắc chắn, căn cơ.

Tự lực bằng nâng cao năng lực sản xuất

ĐBSCL hội đủ các điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, nguồn nước, khí hậu... để phát triển trồng cây ăn trái nhằm tạo nguồn nông sản tiêu dùng và xuất khẩu, ổn định và nâng cao mức sống nhân dân. Theo dự báo của Tổ chức Lương Nông Quốc tế (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thế giới tăng bình quân 3,6%/năm, nhưng mức cung chỉ tăng khoảng 2,5%/năm. Trong đó, nhu cầu nhập khẩu trái cây nhiệt đới trên thế giới rất lớn (mức tăng trưởng 8 - 10%/năm). Đây là cơ hội tốt để Việt Nam nói chung và ĐBSCL đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trái cây. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới là thời cơ và cũng là thách thức cho sản phẩm nông sản, rau quả ĐBSCL và cả nước. Tiến sĩ Lương Ngọc Trung Lập, Trưởng Bộ môn Nghiên cứu thị trường, Viện Cây ăn quả Miền Nam, cho rằng: “Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao cải thiện được chất lượng sản phẩm làm ra, mẫu mã đẹp và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Để từ đó có thể xuất khẩu qua nhiều nước hơn nữa, tránh lệ thuộc vào một nước nhất định nào đó. Thực tế vẫn có nhiều nước có nhu cầu nhưng đòi hỏi chất lượng cao mà chúng ta chưa đáp ứng. Để làm được điều này thì trước tiên người nông dân cần được nâng cao trình độ sản xuất, tiến tới tạo sự ổn định về chất lượng, an toàn thực phẩm theo hướng GAP, nâng cao năng lực cạnh tranh trên “sân nhà” và cả thị trường xuất khẩu.

Nâng cao năng lực sản xuất, gia tăng giá trị là vấn đề then chốt để hàng hóa nông sản cạnh tranh trên “sân nhà” và xuất khẩu. Trong ảnh: Đóng gói thanh long xuất khẩu tại HTX Thanh long Tầm Vu. Ảnh: T. LONG

Hợp tác xã (HTX) Thanh long Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An là một trong những điển hình hiệu quả trong sản xuất áp dụng GlobalGAP, mở rộng thị trường. Ông Phan Quang An, Giám đốc HTX, cho biết: Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9-2008, đến năm 2010, HTX Thanh long Tầm Vu bắt đầu xuất khẩu trực tiếp sang Trung Quốc. Thời gian đầu, dù sản lượng xuất khẩu còn khá khiêm tốn, nhưng việc xuất khẩu trực tiếp đã đem lại nhiều hy vọng cho xã viên, mà trước hết là về giá bán. Bởi giá bán thanh long của xã viên HTX luôn cao hơn giá thị trường vài trăm đồng, có thời điểm từ 1.000 – 2.000 đồng/kg. Để giữ giá bán, HTX áp dụng triệt để các quy trình canh tác tiên tiến, nhất là áp dụng GlobalGAP, cho thanh long cho trái rải vụ trong năm. Cách làm bài bản, khoa học, từ vài trăm tấn ban đầu, những năm gần đây HTX đã xuất được 5.000 - 6.000 tấn trái/năm sang không chỉ thị trường Trung Quốc mà còn sang nhiều nước khác như Thái Lan, Malaysia, Singapore… “Tháng 4- 2014, Thanh long Tầm Vu được Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Mỹ cấp giấy chứng nhận bảo hộ độc quyền khi xuất sang thị trường Mỹ… Đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thị trường khó tính này mở ra nhiều cơ hội hơn nữa cho trái thanh long Tầm Vu”, ông Phan Quang An nói.

Giai đoạn 2006 - 2013, Viện Cây ăn quả miền Nam đã tư vấn xây dựng được 493,9 ha thanh long, xoài, chôm chôm đạt được chứng nhận EurepGAP/GlobalGAP. Sau khi tiêu chuẩn VietGAP được ban hành năm 2008 đến nay, Viện đã tư vấn cho các tỉnh ở ĐBSCL và miền Đông Nam bộ xây dựng hơn 257,38 ha rau, quả đạt chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP như: dứa Queen (Tiền Giang), xoài (Đồng Tháp, Đồng Nai), chôm chôm (Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre), thanh long (Long An, Tiền Giang), bưởi (Bến Tre), nhãn (Tiền Giang, Bến Tre), dưa hấu (Trà Vinh),… Tuy nhiên, số lượng này còn quá thấp so với tổng diện tích sản xuất cũng như yêu cầu thực tế. Để gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng GAP, theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Hòa, Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam, một số mô hình được chứng nhận GlobalGAP hay VietGAP nhưng sau đó khó tái chứng nhận do chi phí quá cao. Hiện, ngành chức năng cũng đã đề xuất Nhà nước hỗ trợ 100% phí chứng nhận GAP, sau đó giảm xuống còn 75%... Phải tổ chức lại sản xuất bằng cách thành lập tổ hợp tác, HTX. Sau đó liên kết các HTX và gắn kết DN để lo đầu ra (mô hình cánh đồng lớn), tốt nhất là gom về một mối theo từng vùng, từng cây (liên kết vùng, liên kết ngành hàng). Nhà nước phải thật sự vào cuộc hỗ trợ và giám sát. Vấn đề này, ông Hồ Vĩnh Sang, Chủ tịch Hiệp hội Dừa tỉnh Bến Tre, cho rằng: Có nhiều biện pháp thúc đẩy “đầu ra” cho sản phẩm hàng hóa nông sản. Nhưng cơ bản nhất là phải nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm để có thể đứng vững ở thị trường trong nước, bán cho nhiều thị trường. Khi sức cạnh tranh được nâng lên, thị trường được mở rộng, chúng ta hoàn toàn có thể chủ động làm ăn với Trung Quốc mà không ngại gì bị phụ thuộc. Muốn vậy, Chính phủ, các bộ ngành chức năng và lãnh đạo các địa phương phải có quy hoạch, phải chỉ ra trên thực địa là nên nuôi – trồng cây – con gì ở đâu, bao nhiêu, tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm thế nào, vấn đề thu hoạch, bảo quản, chế biến ra sao và bán ở đâu, ai thực hiện và chính sách gì để tác động? Nếu các vấn đề trên không làm cụ thể, thì sự thua thiệt của nông dân và DN của ĐBSCL và của Việt Nam trong hội nhập là tất nhiên.

Tận dụng thời cơ mới

ĐBSCL được đánh giá khu vực kinh tế năng động có nhiều doanh nghiệp (DN) tham gia xuất khẩu trong các lĩnh vực: lúa gạo, thủy sản, trái cây, rau đậu… Nơi đây có khoảng 51.000 DN (trong đó có 98% là DN tư nhân), và hàng triệu hộ kinh doanh nông nghiệp, thương mại, sản xuất nhỏ không đăng ký kinh doanh. Các DN và hộ kinh doanh dựa trên nền tảng nhu cầu thực tế của nền kinh tế chủ yếu gắn với sản xuất, chế biến thương mại và dịch vụ đời sống. Tuy nhiên, phần lớn các DN ở ĐBSCL là DN nhỏ. Vậy DN ĐBSCL cần làm gì để tự nâng cao năng lực? Bà Nguyễn Thị Thương Linh, Tổng thư ký Hội đồng Hiệp hội DN ĐBSCL, Phó Giám đốc VCCI Cần Thơ, cho rằng: DN phải thường xuyên cập nhật các chính sách, thông tư…nhằm cập nhật và tận dụng các chương trình hỗ trợ của Chính phủ và đồng thời để phòng hờ rủi ro. Bên cạnh đó, tiếp tục thực hiện mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc DN, trong đó tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xem giai đoạn khó khăn là thử thách và là dịp để tái cấu trúc DN, thực hiện đổi mới nhân sự nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ nhân sự cho DN; nâng cao năng lực quản trị rủi ro và quản trị sự bất định để phân tán rủi ro. DN tăng cường tính liên kết trong kinh doanh, tăng cường sức mạnh và bổ sung nguồn lực để vượt qua khó khăn; đẩy mạnh việc huy động vốn từ các thành phần kinh tế, liên doanh, tăng cường sức mạnh và bổ sung nguồn lực để vượt qua khó khăn. Ngoài ra, DN cũng cần phải chú trọng hơn nữa công tác R&D (nghiên cứu và phát triển), cải tiến công nghệ để tham gia chuỗi toàn cầu.

Việt Nam ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu, rộng hơn với những thỏa thuận mới. Điển hình như: Hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2015; thực hiện đầy đủ Hiệp định Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) từ 2015 - 2018; thực hiện các cam kết với WTO, ASEAN +, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC); đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực giữa ASEAN và 6 đối tác Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, New Zealand, Australia và Trung Quốc (RCEP hay ASEAN + 6); đàm phán FTA với EU, Hàn Quốc, Liên minh thuế quan Nga-Kazakhstan-Belarus, Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu - EFTA… Theo bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế cao cấp, khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, kết thúc đàm phán sẽ có 55 FTA với các đối tác kinh tế lớn và trong khu vực, kể cả tham gia các FTA “thế hệ mới” (TPP, VN-EU FTA). Các FTA tạo cơ hội lớn cho Việt Nam trong đó có ĐBSCL tiếp cận thị trường, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư. Tiến sĩ Trần Thanh Bé, Viện trưởng Viện Kinh tế - xã hội TP Cần Thơ, bày tỏ quan điểm: Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đã rõ: Việt Nam mở rộng giao thương với tất cả các nước trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. DN Việt Nam, dù lớn hay vừa và nhỏ, nếu muốn phát triển bền vững đều phải tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường. Bên cạnh thị trường truyền thống, làm ăn uy tín lâu dài, cũng còn nhiều thị trường tiềm năng khác trên thế giới (cả về số lượng và chất lượng, giá cả) cần được quan tâm khai thác. Cả “đầu vào” (cung cấp nguyên liệu) và “đầu ra” (tiêu thụ sản phẩm), không thể để lệ thuộc vào 1 - 2 thị trường lớn “độc quyền”. Nếu không, khi có “vấn đề” xảy ra thì trước hết DN khó sống, ngành hàng cũng khó sống. Và như vậy sẽ kéo theo những hệ lụy khôn lường như công nhân mất việc làm, bao nhiêu gia đình gặp khó, nền kinh tế đình trệ, xã hội bất ổn… Bài học “dựa vào 1 - 2 thị trường lớn” chúng ta đã “học” trong nhiều năm qua đối với các mặt hàng xuất khẩu như cá basa… Cần biến những điều “được học” thành điều “học được”. Nghĩa là biết vận dụng trong các trường hợp tương tự để tránh những rủi ro có thể xảy ra đối với các mặt hàng vốn chiếm tỷ trọng cao (và đang dựa vào 1 - 2 thị trường lớn) trong nền kinh tế ngoại thương như hàng may mặc… Nhà nước cần có chính sách tác động, hỗ trợ để DN có thể chuẩn bị tốt hơn cho việc hội nhập. Các Hiệp hội có vai trò quan trọng cùng với các cơ quan chức năng kịp thời phản ảnh, đề xuất với Nhà nước những vấn đề sát sườn và thiết thực.

Để chủ động ứng phó với những tác động nếu có xảy ra và từng bước hạn chế việc xuất nhập khẩu lệ thuộc vào thị trường nhất định, nhiều ý kiến cho rằng: Nhà nước cần thực hiện tốt thông tin dự báo, theo dõi nắm bắt diễn biến tình hình giá cả, thị trường trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó cung cấp thông tin kịp thời cho các DN, người nông dân để định hướng sản xuất, sản xuất theo nhu cầu của thị trường. Tái cấu trúc ngành thương mại, bắt buộc sản xuất trong nước phải thay đổi để phát triển đa dạng các thị trường; thay đổi tổ chức sản xuất và tổ chức thương mại trong nước.… Về lâu dài, cần tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc trên cơ sở khai thác lợi thế của Việt Nam. Khuyến khích xuất khẩu chính ngạch và hàng hóa chế biến sâu, giá trị gia tăng cao.

Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới. Theo đó, quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia là tất yếu. Vấn đề là phải bảo đảm sự hợp lý, hiệu quả trong quan hệ thương mại quốc tế. Một mặt, Việt Nam phải giảm sự lệ thuộc bất lợi, bất an và rủi ro, mặt khác, không kém quan trọng là khai thác những lợi ích, lợi thế và hiệu ứng tích cực trong quan hệ thương mại. Điều chỉnh là một quá trình nhưng phải làm ngay không chờ những bất trắc xảy ra.

Nhóm PV Kinh tế

2019: Nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp: Tin tức, kỹ thuật, việc làm, sản phẩm, nguyên liệu, vật tư, thiết bị

DNTN VIỆT LINH
Địa chỉ: 71/14 Trần Phú, Phường 4, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: (84-028) 3839.9779 - 6274.2757 - 0902.580018, Hotline: 090.889.2699
Email: vietlinh [vietlinh.vn], vietlinhsaigon [gmail.com]. Facebook: VietLinh

TRANG TIN ĐIỆN TỬ VIỆT LINH - ĐI CÙNG NHÀ NÔNG
vietlinh.com.vn  vietlinh.vn
Giấy phép số 52/GP-BC do Cục Báo chí Bộ Văn Hoá Thông Tin cấp ngày 29/4/2005
Giấy phép số 541/GP-CBC do Cục Báo chí Bộ Thông Tin và Truyền thông cấp ngày 30/11/2007
® Viet Linh giữ bản quyền, © Copyright 2000 vietlinh.vn

Thông tin nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nuôi trồng, kỹ thuật, chế biến, nông sản, trồng trọt, chăn nuôi, thị trường, nuôi tôm, nuôi cá, gia súc, gia cầm, việc làm, mua bán, vật tư thiết bị, môi trường, phân bón, thuốc bảo bệ thực vật, thuốc trừ sâu, thức ăn thủy sản, thức ăn chăn nuôi, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây hoa màu, cây lương thực, cây hoa cảnh, cây thuốc, dược liệu, sinh vật cảnh, phong lan, nông thôn, nông dân, giải trí. All of aquaculture, agriculture, seafood and aquarium: technology, market, services, information and news.

Về đầu trang