|
Nông dân
với internet
và thương
mại điện tử
Việt
Linh, 1/2006
Nguồn:
Mô hình nông
thôn làm
thương mại
điện tử
Website Bộ
Thương mại
1. Sự cần
thiết sử dụng
internet và
ứng dụng
CNTT-TT ở nông
thôn
Khoảng 75% dân
số cả nước là
nông dân sinh
sống, lao động
tại nông thôn.
Sản phẩm nông
nghiệp của
chúng ta đang
chịu các áp
lực: chất
lượng sản phẩm
và công nghệ
cao của các
quốc gia phát
triển, giá cả
cạnh tranh của
những quốc gia
có thị trường
lớn. Trong khi
xu hướng hiện
nay là xóa bỏ
những rào cản
bảo hộ cho các
sản phẩm nội
địa khi hội
nhập kinh tế
với thế giới.
Vì vậy phát
triển nông
thôn là hiện
đại hóa, công
nghiệp hóa
nông nghiệp;
nâng cao dân
trí, đào tạo
nguồn nhân lực
chất lượng cao
hơn, tạo ra
sản phẩm có
chất lượng và
khả năng cạnh
tranh tốt hơn.
2. Chính
sách phát
triển:
Trong Chương
trình trọng
điểm quốc gia
về ứng dụng và
phát triển
CNTT&TT giai
đoạn 2005-2010
của Bộ BCVT đề
ra dự án "Xây
dựng và phát
triển hệ thống
thông tin nông
thôn" do Bộ
Nông nghiệp và
phát triển
nông thôn chủ
trì tập trung
vào việc cung
cấp các dịch
vụ thông tin
cho nông dân
(giá nông sản,
thông tin về
kỹ thuật,
giống,...) tức
là tạo được
dịch vụ công,
xây dựng chính
phủ điện tử
phục vụ nông
dân và phát
triển nông
thôn.
Theo QĐ
246/2005/QĐ-TTG
ngày 6/10/2005
của Thủ tướng
chính phủ Phan
Văn Khải đã ký
phê duyệt
chiến lược
phát triển
CNTT và TT
Việt Nam đến
năm 2020 có
chỉ rõ là để
phát triển ứng
dụng công nghệ
thông tin và
truyền thông
phải Xây dựng
và phát triển
công dân điện
tử: Đảm bảo
trên 80% thanh
niên ở các
thành phố, thị
xã, thị trấn
có thể sử dụng
các ứng dụng
công nghệ
thông tin và
truyền thông
và khai thác
Internet. Từng
bước đưa công
nghệ thông tin
và truyền
thông vào đời
sống của nông
dân, thu hẹp
khoảng cách số
giữa nông thôn
và thành thị.
Người dân được
truy cập thông
tin và tri
thức kịp thời
thông qua phát
thanh, truyền
hình, Internet
và các trang
thông tin điện
tử.
Giải pháp chủ
yếu dành cho
nông thôn là:
+ Xây dựng hệ
thống thông
tin nông
nghiệp và phát
triển nông
thôn
+ Phát triển
hệ thống các
điểm Bưu điện
văn hoá xã và
các điểm truy
cập Internet
công cộng. Đưa
Internet đến
100% các điểm
Bưu điện văn
hoá xã và các
trung tâm giáo
dục cộng đồng,
phục vụ ứng
dụng công nghệ
thông tin và
truyền thông
vào nông
nghiệp và phát
triển nông
thôn.
3. Những
khó khăn:
- Cơ sở hạ
tầng: hệ thống
internet chưa
phổ biến đ/v
nông dân.
- Đa số lao
động nông
nghiệp có
trình độ văn
hoá thấp. Thu
nhập thấp.
Chưa được phổ
cập tin học.
- Thông tin về
nông nghiệp
trên Internet
bằng tiếng
Việt quá ít .
- Khả năng
thay đổi tư
duy: thay đổi
kinh nghiệm
truyền thống
sản xuất bằng
kiến thức khoa
học tiên tiến,
hiện đại từ
internet
Theo kết quả
điều tra về
tình hình phát
triển Internet
tại tất cả các
quốc gia trên
thế giới được
Quĩ nghiên cứu
Internet GOV3
của Anh công
bố vào ngày
17/11 tại Hội
nghị thượng
đỉnh xã hội
thông tin toàn
cầu, Việt Nam
nằm thứ ba
trong nhóm các
quốc gia tiên
phong về tốc
độ phát triển
mạng lưới
Internet với
số người sử
dụng Internet
tăng hơn 27%
trong bốn năm
vừa qua. Gần
10% dân số sử
dụng Internet.
(Truyền hình
Việt Nam -
21/11/2005).
Tuy nhiên chỉ
số tiếp cận số
(DAI) không
cao, do trình
độ sử dụng
thấp, ít các
ứng dụng thiết
thực. Tỉ l ệ
tăng trưởng
Internet rất
cao nhưng phần
lớn Internet
chỉ được sử
dụng tại các
thành phố lớn
như Hà Nội,
TP.HCM (75%)
Lượng truy cập
mạng Internet
của Việt Nam
còn rất thấp
so với khu vực
và thế giới.
Giá cả truy
cập internet
còn khá cao so
với thu nhập
của người dân.
Tốc độ và chất
lượng truy cập
mạng còn rất
thấp. Nội dung
thông tin trên
nhiều trang
web tiếng Việt
còn rất ít,
không hấp dẫn,
tương tác
thấp, không
được cập nhật
thường xuyên
trừ các trang
web báo chí.
4. Phương
hướng:
- Phát triển
mạnh hơn nữa
cơ sở hạ tầng
internet về
các điểm Bưu
diện văn hóa
xã. Có chế độ
ưu đãi sử dụng
internet cho
nông dân (miễn
phí, giá
thấp...)
- Phát triển
các dịch vụ
chuyển tải
thông tin từ
internet đến
nông dân: phát
thanh, truyền
hình, bản
tin... từ các
nguồn tin từ
internet phù
hợp với từng
đặc thù của
mỗi địa
phương. Đầu tư
cho các chương
trình hướng
dẫn sử dụng
Internet cho
nông dân
- Cần cuộc
cách mạng
trong giáo
dục: ưu tiên
phổ cập các
chương trình
đào tạo tin
học, internet
tại các trường
học ở nông
thôn, hình
thành một lực
lượng lao động
trẻ có khả
năng tiếp cận
với tin học,
Internet và
tri thức trên
internet. Đào
tạo khả năng
tự học theo
phương pháp
"từ xa" qua
internet, chứ
không chỉ là
"đọc"
internet.
5. Nhu cầu
là đã có thật:
Theo Bộ trưởng
Đỗ Trung Tá:
hiện nay cả
nước có khoảng
8.000 điểm
BĐVHX. Sẽ xây
dựng 100% các
xã sẽ có điểm
BĐVH. Đến cuối
năm nay sẽ có
4.000 điểm
BĐVHX kết nối
Internet. Tuy
nhiên, vấn đề
là làm sao
trên Internet
có nội dung
thiết thực cho
bà con nông
dân, nông
thôn. (http://www.vnpost.mpt.gov.vn/bao_2005/so48/thoisu/t1b2.htm)
Để có được một
điểm BĐVHX đi
vào hoạt động,
ngoài sự hỗ
trợ của các
bộ, ngành liên
quan cũng như
các địa
phương, Tổng
Công ty Bưu
chính Viễn
thông Việt Nam
(VNPT) đã đầu
tư trung bình
65 triệu đồng
cho mỗi điểm
BĐVHX, những
xã vùng cao,
vùng sâu số
tiền đầu tư có
thể phát sinh
lên tới cả
trăm triệu
đồng. Từ khi
có điểm BĐVHX,
khoảng cách
bình quân tới
các điểm giao
dịch bưu điện
của người nông
dân đã giảm từ
8 – 10km xuống
còn 1,6 km.
Tính đến hết
quý II/2005,
trong số
10.782 xã, thị
trấn trên toàn
quốc, thì số
điểm BĐVHX
được đầu tư
xây dựng và đi
vào hoạt động
là gần 8.000
điểm. Trong đó
1819 xã/2.374
xã nghèo, đặc
biệt khó khăn
có điểm BĐVHX,
chiếm gần 80%
là một nỗ lực
lớn của VNPT
trong việc đưa
dịch vụ bưu
chính viễn
thông đến với
những người
dân ở vùng
sâu, vùng xa.
Năm 2004, dự
án “Đưa
Internet về
các vùng nông
thôn” đã được
VNPT triển
khai tại các
điểm BĐVHX.
Sau 1 năm VNPT
triển khai
giai đoạn I,
với tổng kinh
phí gần 28 tỷ
đồng, đã có
2.000 điểm
BĐVHX có dịch
vụ Internet
với 2.200 máy
tính nối mạng,
trong đó,
1.800 điểm sử
dụng hình thức
Internet quay
số trực tiếp,
200 điểm sử
dụng đường
truyền tốc độ
cao ADSL. Hiện
doanh thu từ
dịch vụ
Internet đã
chiếm 14,1%
tổng số doanh
thu từ các
dịch vụ của
điểm BĐVHX.
Giải pháp đưa
Internet về
nông thôn của
VNPT là bước
khởi đầu giúp
cho người nông
dân, đặc biệt
là lớp thanh,
thiếu niên
nông thôn tiếp
cận với máy
tính và
Internet.
http://www.vnpost.mpt.gov.vn/bao_2005/so33/bdkh/t25b1.htm
Một số ví
dụ:
Đà Nẵng: 100%
xã trên địa
bàn Đà Nẵng đã
có Điểm Bưu
điện Văn hóa
xã (ĐBĐVHX),
trong đó 80%
số ĐBĐVHX này
đều có bộ tập
trung thuê bao
của tổng đài
kỹ thuật số,
trang bị
Internet (Báo
Nông thôn ngày
nay -
09/09/2005)
An giang: từ
năm 2004 đã có
chương trình
Internet nông
thôn và phát
triển 62 điểm
truy cập
internet tại
các xã + 5
điểm truy cập
internet tại
câu lạc bộ
nông dân. An
Giang đã trở
thành một
trong những
tỉnh đầu tiên
hoàn thành mục
tiêu này.
Hiện, 88/88
điểm BĐ-VHX
của An Giang
đã có
Internet,
nhiều điểm có
từ 10 đến 30
máy tính nối
mạng. (VNPT -
30/03/2005)
Theo Phó Giám
đốc Trung tâm
TH - TTKHCN An
Giang Nguyễn
Trúc Lâm, toàn
tỉnh hiện có
khoảng 100
nông dân có
khả năng làm
được như ông
Tư Định và đã
hình thành
nhiều CLB nông
dân truy cập
Internet tương
tự như ở Núi
Voi. Qua 32
lớp tập huấn
sử dụng
Internet, đã
có 716 cán bộ
(trong đó có
167 vị là bí
thư, chủ tịch
và phó chủ
tịch UBND) và
nông dân của
143 xã,
phường, thị
trấn tham gia.
Hiện nay, có
100/150 xã,
phường, thị
trấn có
Internet.
Ngoài máy
tính, máy in,
dây, thiết bị
hỗ trợ kết nối
(modem),...
tỉnh còn hỗ
trợ thẻ truy
cập (thời gian
sử dụng từ 13
- 16 giờ) cho
tất cả những
cán bộ, nông
dân tham gia
tập huấn. (báo
Cần Thơ,
16/4/2005)
Đồng Tháp: Sau
6 năm triển
khai, Đồng
Tháp chỉ còn 5
"xã trắng"
điểm bưu điện
văn hóa (BĐVH)
và dịch vụ
Internet đã
xuất hiện ở 34
làng quê. Ngay
cả nơi xa xôi
nhất thuộc
vùng Đồng Tháp
Mười giáp
Campuchia như
xã Thông Bình,
huyện Tân
Hồng, người
dân cũng dễ
dàng lên mạng
toàn cầu "lướt
web". (Báo
Nhân dân Điện
tử -
05/10/2004)
Đồng Nai: để
phổ biến những
thông tin liên
quan đến nông
nghiệp trên
mạng cho nông
dân, xã An
Viễn đã thực
hiện bằng cách
chuyển loại
hình này sang
hệ thống loa
phát thanh
trong xã. Và
hằng ngày, hệ
thống loa phát
thanh trong xã
lại có thêm
nhiệm vụ
truyền tải
những tư liệu,
tin tức mà
những nhân
viên trong xã
phụ trách
Internet “thu
lượm” được đến
bà con nông
dân. Hơn 10 xã
có trang web
riêng.
Lào Cai: 15/90
điểm bưu điện
văn hoá xã
được nối mạng
Internet. Thực
hiện dự án
“Đưa Internet
về các vùng
nông thôn”
giai đoạn một,
từ đầu năm đến
nay bưu điện
Lào Cai đã
triển khai kết
nối Internet
tới 15/90 điểm
bưu điện văn
hóa xã
(BĐVHX). Đây
là tỉnh miền
núi đầu tiên
thực hiện kết
nối Internet.
Hiện tại, các
huyện Sa Pa,
Bắc Hà, Bảo
Thắng, Bảo Yên
có từ 2 – 3
máy vi tính
tại điểm
BĐVHX. Hàng
ngày, mỗi điểm
có hàng trăm
khách đến truy
cập, tiếp cận
thông tin qua
mạng Internet.
(Hà Nội Mới
16/5/2005)
http://www.mot.gov.vn/forum/forum/viewthread?thread=306#529 |